Giáo Lý Phật Giáo Pdf
Từ xưa đến nay, bất kì một tôn giáo, một học thuyết nào muốn phổ chiếu được rộng rãi chúng sinh, không thể không nương nhờ các thế lực chính trị. Nho giáo được các triều đại Phong Kiến Trung Hoa và Việt Nam một mực tin tưởng áp dụng nên có sức sống mãnh liệt suốt hơn 2000 năm. Cơ Đốc giáo có bước chuyển mình từ một nhánh phái nhỏ tách ra từ Do Thái giáo, bị chèn ép khắp nơi, trở thành tôn giáo chính thống của toàn Đế quốc La Mã, sau này là toàn bộ thế giới phương Tây chính là nhờ vào công sức của Constantinus Đại Đế.
Các từ vựng tiếng Anh dùng trong chùa
Pháp: the Dharma/Dhamma, the Teaching of the Buddha (the Buddha’s teaching)
Tăng: the Sangha / Buddhist community of monks
Phật tử: Buddhists / Buddhist followers
Đại đức (Venerable, Ven.): vị Tăng thọ Đại giới (250 giới sau ít nhất 2 năm thọ giời Sa di (10 giới) và tu tập ít nhất 2 năm, tuổi đời ít nhất là 20 tuổi.
Thượng tọa/Hòa thượng: Most Venerable
Thượng tọa (Most Venerable): Vị Đại đức có tuổi đạo ít nhất là 25 năm (tuổi đời trên 45 tuổi)
Hòa thượng (Most Ven): vị Thượng tọa có tuổi đạo ít nhất là 40 năm (tuổi đời trên 60 tuổi)
Tỳ kheo/Tỳ kheo Ni: Bhikkhu / Bhikkhuni: fully ordained monk/nun
Sa di/Sa di Ni (sāmaṇera): Novice / Female Novice
Pháp đệ: younger brother in Dharma
Dịch thuật công chứng tiếng Anh tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Pháp tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Đức tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Nhật tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Hàn tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Trung tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Thái tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Nga tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Ý tại TPHCM
Dịch thuật công chứng tiếng Tây Ban Nha tại TPHCM
Chùa, Tu viện/Ni viện: Pagoda / Temple / Monastery/Nunnery
Chánh điện: main hall / Buddha shrine
Điện Quan âm: Avalokitesvara shrine
Điện Di đà: Amita Buddha shrine
Kinh: Sutta, sūtras, Scriptures, Canon, holy book
Luật: Vinaya book, discipline codes, or Buddhist monastic code
Tam bảo: Triple Gems: Buddha, Dharma, Sangha
Quy y Tam bảo: Take refuge in the Triple Gems
Đảnh lễ Tam bảo: Pay homage to the Triple Gems
Lạy to prostrate (v), prostration (n)
Thiền: Zen/Chan/Thien, meditation
Tụng kinh: chanting, recite the sutra
Niệm Phật: chanting the Buddha’s name
Nghe pháp: listen to Dharma talk
Chánh niệm: mindfulness/being in the present
Giáo lý: teaching / tenet / doctrine
Lời Phật dạy: the teaching of the Buddha / the Buddha’s teaching
Duyên khởi: co-arising, dependent origination
Bát chánh đạo: Noble Eight-fold Path
Tam pháp ấn: three characteristics of existence
Thường/Vô thường: permanence/impermanence
Hạnh phúc/an lạc /niềm vui sướng: happiness / peace / bliss
Tham/Sân/Si: greed / hatred, ill-will / ignorance
– Angel – /ˈeɪn.dʒəl/: thiên thần
– Ancient traditional – /ˈeɪn.ʃənt.trəˈdɪʃ.ən.əl/: truyền thống cổ xưa
– Attachment – /əˈtætʃ.mənt/: sự ràng buộc, sự chấp trước
– Apostle – /əˈpɑː.səl/: tín đồ, đồ đệ
– Awaken – /əˈweɪ.kən/: thức tỉnh
– Belief – /bɪˈliːf/: tín ngưỡng
– Buddhism – /ˈbʊd.ɪ.zəm/: đạo Phật
– Catholicism – /kəˈθɑl·əˌsɪz·əm/: Công giáo
– Causal law – /ˈkɑː.zəl.lɑː/: luật nhân quả
– Christian – /ˈkrɪs.ti.ən/: đạo Thiên Chúa
– Christmas – /ˈkrɪs.məs/: Lễ Chúa giáng sinh
– Confucianism – /kənˈfjuː.ʃən.ɪzm/: đạo Khổng (Nho giáo)
– Creator – /kriˈeɪ.t̬ɚ/: Đấng tạo hóa, Đấng sáng thế
– Hinduism – /ˈhɪn.duː.ɪ.zəm/: đạo Hindu (Ấn Độ giáo)
– Protestantism – /ˈprɑt̬·ə·stənˌtɪz·əm/: đạo Tin lành
– Taoism – /ˈdaʊ.ɪ.zəm/: Lão giáo (Đạo giáo)
– Sikhism – /ˈsi·kɪz·əm/: đạo Sikh (Ấn Độ giáo)
– Synagogue – /ˈsɪn.ə.ɡɑːɡ/: giáo đường của Do Thái Giáo
– Mosque – /mɑːsk/: nhà thờ của người Hồi giáo
– Savior – /ˈseɪv·jər/: vị cứu tinh
– Heaven – /ˈhev.ən/: thiên đường, thiên quốc, thiên thượng
– Earth – /ɝːθ/ trái đất, cõi trần
– Ghost – /ɡoʊst/, phantom – /ˈfæn.t̬əm/: ma
– Devil – /ˈdev.əl/, satan – /ˈseɪ.tən/, demon – /ˈdiː.mən/: quỷ dữ
– Easter – /ˈiː.stɚ/: Lễ phục sinh
– Reincarnation – /ˌriː.ɪn.kɑːrˈneɪ.ʃən/: luân hồi
– Material – /məˈtɪr.i.əl/: vật chất
– Spirit – /ˈspɪr.ət/: linh hồn, tinh thần
– Practice – /ˈpræk.tɪs/: luyện, tu luyện
– Meditation – /ˈmed.ə.teɪt/: thiền định
– Though – /ðoʊ/: ý niệm, ý nghĩ
– Mind – /maɪnd/: tư tưởng, tâm hồn
– Moral standard – /ˈmɔːr.əl.ˈstæn.dɚd/: tiêu chuẩn đạo đức
– Ignorance – /ˈɪɡ.nɚ.ənt/: sự ngu muội
– Virtue – /ˈvɝː.tʃuː/: đức hạnh, phẩm giá
– Wisdom – /ˈwɪz.dəm/: trí huệ, sự thông thái
– Compassion – /kəmˈpæʃ.ən/: lòng từ tâm, thiện lương
– Mercy – /ˈmɝː.si/: lòng từ bi
– Forbearance – /fɔːrˈber.əns/: sự nhẫn nại
– Truthfulness – /ˈtruːθ.fəl/: sự chân thành, chân thực
– Sincerity – /sɪnˈsɪr/: chân thành, thành khẩn
– Tribulation – /ˌtrɪb.jəˈleɪ.ʃən/: khổ nạn
– Scripture – /ˈskrɪp.tʃɚ/: kinh sách
– The Bible – /ˈbaɪ.bəl/: Thánh kinh
– Buddha law – /ˈbʊd.ə.lɑː/: Phật Pháp
– Preach – /priːtʃ/: thuyết giảng
– Prophecy – /ˈprɑː.fə.si/: lời tiên tri
– Universe – /ˈjuː.nə.vɝːs/: vũ trụ, toàn thể
– Prehistoric civilization – /ˌpriː.hɪˈstɔːr.ɪk. ˌsɪv.əl.əˈzeɪ.ʃən/ /: văn minh tiền sử
– Superstition – /ˌsuː.pɚˈstɪʃ.ən/: sự mê tín
– Any conflict can be solved with tolerance, patience and sincerity.
=> Mọi sự xung đột đều có thể được giải quyết với sự khoan dung, nhẫn nại và chân thành.
– The paths of perceiving of mainstream beliefs is through the practing following the moral standards as directed by awaken people like Buddha Sakyamuni, Jesus, Lao Tzu…
=> Con đường nhận thức của các tín ngưỡng chân chính là thông qua việc thực hành tu sửa bản thân theo các tiêu chuẩn đạo đức được dẫn dắt bởi các vị giác giả như Phật Thích Ca Mâu Ni, Chúa Jesus, Lão Tử…
– Beliefs are not blinded superstition. It’s science, and they do other ways to discover the mystery of connection between human and universal.
=> Tín ngưỡng không phải là sự mê tín mù quáng. Nó là khoa học và họ có các cách khác nhau để khám phá ra bí mật sự liên hệ giữa con người và vũ trụ.
– Every mainstream religious belief appears in human society when social morality standards are degradation. They help to restore truthful morality standards of human.
=> Mọi tín ngưỡng chân chính xuất hiện trong xã hội loài người khi các tiêu chuẩn đạo đức đang xuống cấp. Họ giúp khôi phục lại tiêu chuẩn đạo đức chân chính cho con người.
– Scientists say that we are only aware of 4% of matter of universe, so we cannot see the existence of beings created by other matter. However, religions long times ago can be aware Gods – the higher-class beings than human
=> Các nhà khoa học nói rằng chúng ta chỉ nhận biết được 4% vật chất trong vũ trụ, do đó chúng ta không thể thấy được sự tồn tại của các sinh mệnh được cấu thành bởi các vật chất khác. Tuy nhiên từ rất lâu các tín ngưỡng tôn giáo có thể nhận thức về Thần – những sinh mệnh cao cấp hơn loài người.
Ban hoằng pháp trung ương: The Society for the Propagation of the Faith
Giáo hội phật giáo Việt Nam: VIETNAMESE BUDDHIST ASSOCIATION
Từ vựng tiếng Anh về Phật giáo, tín ngưỡng / Các từ vựng tiếng Anh dùng trong chùa đôi khi dùng ngôn ngữ pali hay sanskrit (tiếng Phạn) vì vậy khó ghi nhớ vì vậy gây khó khăn cho biên dịch, vì vậy, việc dùng chính xác thuật ngữ dùng trong chùa hay lĩnh vực phật giáo là quan trọng.
Giáo hội Phật giáo tỉnh Gia Lai
Sáng ngày 26/11/2024, lễ ra mắt điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung Đạo Tràng Phước Huệ. Tại thôn su b, xã iahla, huyện Chư Pưh.
GNO - Mục đích cứu cánh của đạo Phật là giải thoát sinh tử luân hồi. An lạc, hạnh phúc tối thượng chính là không còn phiền não khổ đau sinh tử.
Tuy nhiên vì căn cơ trình độ chúng sinh cao thấp khác nhau, nhân duyên vô vàn sai biệt, tập nghiệp và vô minh sâu dày nên phần lớn chúng sinh chỉ mong cầu hạnh phúc phước báo nhân thiên trong vòng luân hồi, rất ít người có chí hướng thoát ly sinh tử. Với tâm từ bi vô hạn, Đức Phật đã tùy duyên giáo hóa, dạy nhiều phương pháp tu tập phù hợp với từng căn tánh chúng sinh, mang lại an lạc hạnh phúc với nhiều tầng bậc, nhiều cấp độ trong các cõi nhân thiên.
Có thể thấy trong hệ thống giáo lý đồ sộ của đạo Phật có rất nhiều bài kinh mang lại nhận thức tích cực, hướng dẫn con người có thái độ phù hợp, thích ứng với hoàn cảnh, giúp con người giải quyết những tình huống khó khăn trong cuộc sống, vượt qua được những thử thách và tìm thấy được sự bình yên, hạnh phúc. Học tập, rèn luyện và tu dưỡng theo giáo lý Đức Phật, con người tự nâng cao nhận thức, thấy đúng sự thật, có tâm bao dung rộng mở, tầm nhìn xa rộng đa chiều. Với sự tu tập đúng pháp, người tại gia có thể đạt được cuộc sống an lạc thảnh thơi; người xuất gia có đủ điều kiện thăng hoa tinh thần, giác ngộ chân lý tối thượng.
Điểm qua một số giáo lý cơ bản và quan trọng bậc nhất của đạo Phật mà cả hàng xuất gia và tại gia đều có thể học tập, ứng dụng và đạt được lợi lạc tùy từng cấp độ tu tập.
Giáo lý Tứ diệu đế mà Đức Phật tuyên thuyết cho năm anh em A-nhã Kiều-trần-như tại Lộc Uyển là giáo lý căn bản nhằm mở ra nhận thức sâu sắc về sự thật bản chất bất toàn của đời sống, gọi là Khổ đế. Nguyên nhân dẫn đến những bất mãn, thất vọng, khổ đau mà con người phải chịu, không ai có thể tránh khỏi chính là tham ái, gọi là Tập đế. Chỉ ra nguồn an lạc, hạnh phúc chân thật, vững bền, không còn bóng dáng của khổ đau khi tâm định trí sáng, gọi là Diệt đế. Con đường đạt được nguồn chân hạnh phúc đó chính là Bát chánh đạo, gọi là Đạo đế.
Thực hành Tứ diệu đế căn bản chính là Đạo đế, mà chủ yếu là tu tập Bát chánh đạo. Trong đó, hai chi phần Chánh kiến và Chánh tư duy mang lại nhận thức sâu sắc, thấu đáo về bản chất đời sống, quan niệm sống đúng đắn, tích cực làm tư tưởng chủ đạo cho tư duy và hành động. Ba chi phần tiếp theo gồm Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng giúp xây dựng những kỹ năng sống thiện lành được hình thành trên cơ sở hiểu biết đúng đắn và kinh nghiệm thực hành các thiện pháp qua suy nghĩ, lời nói và hành động. Chi phần Chánh tinh tấn giúp hình thành tinh thần cố gắng, nỗ lực không ngừng nghỉ. Hai chi phần sau cùng, Chánh niệm và Chánh định giúp mở rộng khả năng làm chủ bản thân bao gồm cảm xúc, tình cảm, tâm lý, kiểm soát tốt tư duy, ngôn ngữ, hành động, giúp tâm an tịnh, hỷ lạc, bất động.
Thực hành Bát chánh đạo chính là tu dưỡng Tam vô lậu học. Trau dồi những giá trị đạo đức giúp con người hoàn thiện và nâng cao phẩm cách nhờ giữ Giới (phẩm hạnh, đạo đức Phật giáo); giúp làm chủ cảm xúc, tình cảm, tâm lý nhờ tu Định; sau cùng, có khả năng thích nghi, ứng phó và giải quyết các vấn đề cá nhân và xã hội một cách có hiệu quả trên cơ sở thấu rõ về duyên sinh, nhân quả nhờ thành tựu Tuệ.
Ba môn học vô lậu này chẳng những giúp con người kiện toàn nhân cách, đạt được những giá trị chân, thiện, mỹ trong đời sống mà còn đưa hành giả đạt tới bậc thánh thiện, có đời sống vượt lên trên đời sống tầm thường của thế tục; đặc biệt có thể phát triển đến đỉnh cao là giác ngộ, giải thoát. Vì thế ba môn học này được gọi là vô lậu - không còn phiền não, nhiễm ô đưa đến sự sa đọa vào con đường khổ.
Về phương diện hướng dẫn con người bước vào sinh hoạt tập thể, sống hòa nhập với tổ chức, cộng đồng, xã hội, phải kể đến giáo lý Lục hòa và Tứ nhiếp pháp.
Lục hòa là sáu nguyên tắc sống hòa hợp mà Đức Phật dạy hàng xuất gia nhằm xây dựng đời sống tu hành hòa mục, tịnh lạc, giúp giáo đoàn tăng thịnh, nhưng Lục hòa cũng mang lại lợi ích lớn cho bất cứ đời sống tập thể nào biết vận dụng thực thi nó. Lục hòa gồm có: Thân hòa đồng trú là tập sống chung hòa hợp, tôn trọng lẫn nhau trên tinh thần bình đẳng, tương thân tương ái, không phân biệt đối xử, không thành kiến, tị hiềm. Khẩu hòa vô tranh là lời nói từ ái, thuận hòa không tranh đấu hơn thua, không xúc phạm, không làm tổn thương người khác. Ý hòa đồng duyệt (ý hòa cùng vui) là biết trao đổi, hội ý, ý nghĩ hòa hợp không chống trái, không tranh chấp hơn thua, không thành kiến, oán thù.
Giới hòa đồng tu là cùng nhau thọ trì giới pháp, giữ gìn những chuẩn mực đạo đức, thực hành chánh hạnh, cùng giúp đỡ nhau trong việc trau giồi phẩm cách, đức hạnh, hoàn thiện bản thân. Kiến hòa đồng giải là cùng nhau hướng đến chánh tri kiến; tư tưởng, nhận thức hòa hợp không chống trái, không dị biệt. Lợi hòa đồng quân là cùng chia sẻ lợi ích với nhau một cách phù hợp, bình đẳng về phương diện vật chất cũng như những thụ hưởng tinh thần, cùng chia sẻ trên tinh thần hòa đồng ái kính.
Còn Tứ nhiếp pháp là nghệ thuật đắc nhân tâm, phương pháp chinh phục và nhiếp hóa quần chúng. Đây chính là kỹ năng hòa nhập tập thể, tổ chức, cộng đồng để làm lợi ích xã hội. Bố thí nhiếp, Đức Phật dạy bố thí về các phương diện như tiền bạc của cải, cơm ăn áo mặc, phương tiện kiếm sống, nói chung là về phương diện vật chất; bố thí kiến thức, truyền đạt kỹ năng, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, lời hay lẽ phải, những giá trị đạo đức; bố thí sự bình an, yên ổn bằng lời an ủi, khuyên nhủ, thấu hiểu, sự bảo vệ, chở che để tạo thiện cảm và niềm tin, sự mến mộ nơi mọi người.
Ái ngữ nhiếp là dùng lời nói từ ái, dịu dàng, duyên dáng, lịch sự, lời nói chân thành, khéo léo để chinh phục lòng người, giúp họ hướng thiện. Lợi hành nhiếp là dùng sự tận tâm giúp đỡ mọi người đều có lợi ích, khích lệ mọi người phấn đấu để cùng nhau đi đến thành công trong cuộc sống. Đồng sự nhiếp là dùng sự gần gũi, thân cận, cùng sống chung, cùng làm việc, cùng đồng cam cộng khổ, chia sẻ ngọt bùi để tạo tình cảm và mối tương giao tốt.
Ngoài một số giáo lý tiêu biểu nói trên, qua hệ thống kinh điển đồ sộ, đạo Phật còn trang bị cho hàng ngũ xuất gia và tại gia những kỹ năng nhận thức bản thân, xác lập mục tiêu cuộc đời, cách xây dựng đời sống hiện tại và tương lai an lạc. Chẳng hạn như Đức Phật tuyên bố rằng ai cũng có khả năng giác ngộ thành Phật, ai cũng có khả năng tự hoàn thiện mình nếu như người đó biết nỗ lực phấn đấu cải tạo bản thân, biết hướng đến mục tiêu cao thượng. Đức Phật khẳng định rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Ngài là Phật đã thành và chúng ta là Phật sẽ thành. Điều này đã giúp chúng ta có lòng tin vào khả năng giác ngộ, vào năng lực chuyển hóa, tự hoàn thiện mà mình có thể khai thác nơi chính con người mình.
Thông qua giáo lý Nghiệp, Đức Phật dạy về tinh thần trách nhiệm cá nhân, mỗi người phải ý thức rằng mình là chủ nhân của đời sống, mình hoàn toàn chịu trách nhiệm việc mình làm, những gì mình tạo tác bằng thân (hành động), khẩu (lời nói), ý (suy nghĩ), ngoài mình ra không ai có thể làm cho mình hạnh phúc hoặc đau khổ. Thông qua giáo lý Duyên khởi, Đức Phật dạy về các mối tương quan tương duyên trùng trùng, từ con người cho đến thế giới đều nằm trong sự vận hành của nhân-duyên-quả, không có những thực thể tồn tại độc lập, không có những sự kiện ngẫu nhiên, không có bất cứ quyền năng nào có thể chi phối muôn loài vạn vật ngoài tiến trình nhân quả.
Giáo lý Tứ vô lượng tâm, bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả dạy chúng ta sống đời sống cao thượng với tâm rộng lớn, vị tha có ích cho đời. Người thực hành giáo lý Tứ vô lượng tâm luôn có tấm lòng rộng mở, bao dung độ lượng, thương tất cả chúng sinh, vui với điều thiện và thường làm lợi lạc chúng sinh bằng tâm nguyện cao đẹp “cứu khổ ban vui’.
Phật giáo có nhiều pháp môn tu với ý nghĩa có nhiều cánh cửa phương tiện, nhiều phương pháp thực hành thích ứng với nhiều căn cơ trình độ của con người, các pháp môn đều lấy Chánh kiến, Chánh tư duy làm nền tảng, và lấy sự thực hành làm trọng tâm. Chỉ có sự thực hành, rèn luyện trên cơ sở nhận thức tích cực, phù hợp với chân lý mới giúp chúng ta hình thành những kỹ năng cần thiết, chứng đạt được an lạc hạnh phúc trong đời sống và hướng đến giác ngộ, giải thoát trong tương lai.
Từ vựng tiếng Anh về Phật giáo, tín ngưỡng hay các từ vựng tiếng Anh dùng trong chùa (Buddhist terms / buddhis vocabulary) giúp cho biên dịch dễ dàng tra cứu các thuật ngữ về danh xưng (chức vụ) như đại đức, thượng tọa, hòa thượng…cũng như thọ giới tỳ kheo, tỳ kheo ni…Bài viết này sưu tầm từ trang http://thichvannang.blogspot.com/, nếu bạn có thêm thông tin, vui lòng đóng góp ý kiến phần comment hoặc email [email protected]. Xin cám ơn